Phan Khắc Thân

Thơ vào giấc ngủ

Cuối tuần trăng hạ xuống rồi
Giọt sương quên ngủ, ngã rơi đầu cành
Ngoài hiên gió lặng vắng tanh
Một vầng trăng tựa bên mành cô đơn

Vẳng đâu?... tiếng trẻ dỗi hờn
Lọt trong lời mẹ ru con ngọt ngào
Lời ai!? Chứa đựng niềm đau
Làm tôi nhớ mẹ… thủa nào ru tôi
Gió mưa bão táp quen rồi
Lời ru của mẹ… lòng tôi lại buồn

Cảnh khuya một tiếng chim đơn
Lời ru… bóng mẹ, chập chờn… vào thơ.

Mùa thu Canh Thìn 2000

Nhật nguyệt tiên kiều

Trà đình – Tửu quán là đâu
Khách thơ nào phải tìm cầu xa xôi
Nhị Kiều đôi ngả ta ngồi
Luận thơ - đàm cuộc đầy vơi nhân tình

Hà Phan

Mừng năm rồng

Mừng Tổ quốc hoà bình thống nhất
Hai nhăm năm đổi mới khởi đầu
Tên Việt Nam hội nhập khắp năm châu
Đất nước xanh tươi đỏ màu da thịt
Xưa ông cha ước mơ nhà gỗ mít
Nay cao tầng địa ốc mới là sang
Mừng quê hương ngày một khang trang
Bê tông hoá đường làng ngõ xóm
Tiếng loa đài rộn ràng hôm sớm
Có điện đường thắp sáng ban đêm
Tủ lạnh, ti vi ngày một nhiều thêm
Xe gắn máy, nhiều nhà vài ba chiếc
Chuyện với nhau những điều cần biết
Có điện thoại bàn, di động cầm tay
Xin chúc mừng năm mới Xuân này
Xuân hội tụ của bao mùa trước.

                                     12/ 10/ 2011



Chữ hiếu tròn

“Đi khắp thế gian không ai tốt bằng mẹ
Gánh nặng cuộc đời không ai khổ bằng cha”
Câu thơ này ai đã nghĩ ra
Xin được cảm ơn ngàn lần lên tác giả

Người giàu sang, đủ ăn, hay đói nghèo vất vả
Dòng sữa mẹ vơi đầy, đều dành cả cho con
Con lên ba, đầu vú mẹ vẫn nhẵn mòn
Biết ăn cháo mà còn nũng nịu.

Trụ cột gia đình, nắng mưa cha bận bịu
No đủ, rách lành, cha gánh chịu nhiều hơn
Những mong rằng đền đáp công ơn
Con ghi nhớ lo tròn chữ Hiếu…

Vòng khăn tang bao nhiêu cũng thiếu
Mâm cỗ đầy, hương nến chả là chi
Cha mẹ già tuổi cổ lai hy
Chữ Hiếu còn phải làm gì?
Để mẹ cha thanh thản.
                                     17/ 10/ 2011



Du lịch chùa thày

Du lịch mời anh đến quê tôi
Có chùa có núi có chợ trời
Không mua, không bán mà đông khách
Có Hang Thần, dẫn xuống “âm” chơi

Lên chùa Một Mái xem hang Gió
Quay lại vườn Đào để nghỉ ngơi
Thả hồn thư giãn nhìn quang cảnh
Làng quê, đồng ruộng lúa xanh tươi

Vào thăm hang động thiên nhiên tạo
Nơi đây Hoá Thánh tự thuở nào
Xuống núi lần dần theo bậc đá
Đại già đương đợi khách, đưa chân

Cầu Kiều nối nhịp vào chính điện
Cao tăng Đạo Hạnh trọn kiếp thiền
Vi thần, vi Phật, vi Hoàng Đế
Lưu danh, Thiên Phúc Tự(*), Thánh hiền

Long Trì sóng sánh hồ nước rộng
Thuỷ đình tám mái lượn cong cong
Quanh hồ đường dẫn, chen hoa lá
Nhẹ nhàng thả bước tới chùa Long

Cảnh quan thoáng mát khuôn viên đẹp
Đầu rồng đứng đó ngắm thiên nhiên
Quái Long tên nghịch mấy ai biết
Núi Sài ẩn tích chốn linh thiêng.


Hàng cây râm bụt

Màu hoa sắc thắm đỏ tươi
Có hàng râm bụt ngăn đôi hai nhà
Chủ nhân tình cảm mặn mà
Cho nên con lợn, đàn gà sang nhau
Hương thơm thoang thoảng hoa cau
Trầu non lá lộc cho nhau mặn nồng
Đầu mùa cơm mới khoai mùng
Chè xanh nước ngọt vẫn cùng chung vui
Cái tình cái nghĩa ở đời
Cùng nghèo chẳng tính lãi lời phân ly
“Yêu nhau, yêu cả đường đi”
Cõi bờ gianh giới phân chia nhẹ nhàng
Bởi chưng nghĩa xóm tình làng
Tắt đèn tối lửa rộn ràng bên nhau
Bây giờ thôn xóm đổi màu
ở liền mà hoá xa nhau, thật buồn
Hàng cây râm bụt mảnh vườn
Được thay nó, bởi bức tường bê tông
Nhà xây cao ngút mấy tầng
Cửa ngõ đóng kín then trong khoá ngoài
Nhớ về kỷ niệm một thời
Còn hàng râm bụt, sang chơi cho gần.





Hồn núi

Câu lạc bộ về đây hội tụ
Bên núi Thày niềm vinh dự của quê hương
Nay khởi nguồn cảm hứng văn chương
Đầy đủ cả cầm – kỳ – thi – hoạ

Thơ chữ Hán bia trên vách đá
Sách Lịch Triều trong sử nước ta
Chúa thơ nôm, lời hoạ hài hoà
Tình trong mộng ẩn hang Cắc Cớ

Đất Sơn Tây đôi mắt người còn đó
Ngắm lúa vàng mãi cánh đồng Bương
Nhiều danh nhân tác phẩm làm gương
Nguyễn Thượng Hiền, cầu Kiều quan trạng

Những áng văn như nguồn ánh sáng
Soi tỏ đường cho thế hệ ngày nay
Ta làm văn thơ, có thể chưa hay
Hãy coi đây, thay nén hương trầm tưởng nhớ.




(*) Tên chùa c

Nguyễn Văn Tuất

BÀI HỌC NĂM XƯA
Kính tặng thầy Thế Mạc

Con xin thầy hãy tha lỗi cho con
Chưa làm được bao nhiêu những điều thầy dạy
Con ngơ ngác giữa dòng đời cuộn chảy
Nhìn sương về bạc trắng một hoàng hôn

Bài học năm xưa thầy đã dạy con
Cần phải viết những câu văn có nghĩa
Con đã sống những tháng năm như thế
Giữa đôi bờ sóng vỗ quá xôn xao

Cuộc đời này thường lắm nỗi thương đau
Đời mấy kẻ dám cầu kinh sám hối
Nước mắt rơi trong những chiều bão nổi
Con thấy mình có lỗi với mai sau

Cây thông nào đang đứng giữa trời cao
Mặc gió cát bốn bề quanh năm thổi
Tảng đã nào năm xưa bên bờ suối
Ai gối đầu suy ngẫm thế gian đau

Bài giảng năm xưa con nhớ từng câu
Lệ Chi Viên là bài ca đau nhất
Ai ngày xưa là công thần khai quốc
Hồn như sao mãi mãi sáng trên đầu

Thế mà nay một dòng lệ quặn đau
Hằn vết máu trên trang thơ đất nước
Bài học này chẳng thể nào quên được
Thành hành trang con ghi khắc trong đầu

Vết sẹo này con có dám quên đâu
Giọt lệ rơi thấm trang thơ con viết
Người dạy con phải tin yêu đất nước
“Đẻ ra đời sao khỏi những cơn đau”

Con xin làm hạt mưa nhỏ nhắn phía đằng sau
Để đậu được vào đôi vai khô xác
Trái sim nào chẳng một thời chua chát
Vẫn muốn dâng mật ngọt hiến cho đời

ý nguyện này thầy đã dạy con rồi
Con đi mãi vẫn một miền như thế
Con sông nào rồi cũng ra với bể


CHIA TAY BẠN VỀ HƯU

Bạn về vắng một tri âm
Cung đàn buông một nốt trầm lẻ loi
Chia nhau nửa chén rượu vơi
Dìu nhau đi giữa nhịp đời chênh chông

Đành rằng là sắc là không
Thơ tôi vẫn lạc giữa mênh mông chiều
Câu thơ bóng đổ liêu xiêu
May mà vịn được chữ yêu cuối vần

Nhịp đời đã mỏi bước chân
Bạn về bỏ mặc bụi trần lại đây
Chia tay nâng chén rượu đầy
Chẳng say thì cũng phải say hết mình

Bọn mình vẫn trọng chữ tình
Bạn về để lại bóng hình tôi theo
Tôi như đã mỏi tay chèo
Bạn về đến bến buông neo cuối dòng


MÙA ĐI
 Chiều cứ đứng bần thần qua cửa sổ
Nôn nao nhớ một thời xa vắng lắm
Cái thời ấy, trắng một trời mây trắng
Quá vô tư nên chẳng thấy ai buồn

Mùa trôi đi theo sắc áo hoàng hôn
Bánh luân hồi thời gian quay  mải miết
Ta nhìn  ra thấy một miền cổ tích
Vỡ tan rồi sương khói phủ lên nhau

Chiều một mình lơ đãng đứng trên cầu
Giơ tay vớt một cánh hoa lạc bến
Hình như mai một cơn giông lại đến
Mây trắng trời, mây trắng chạy về đâu

Lá ở đâu trôi dạt ngập chân cầu
Như mang cả mùa thu trôi theo lại
Mùa cứ trôi, mùa cứ trôi đi mãi
Để vô tư ngày ấy lạc đâu rồi

HÀNH TRANG

 Đã một thời tôi mải miết kiếm tìm
Trên giảng đường dọc ngang sách vở
Những giáo lý cao siêu ngổn ngang câu chữ
Những tượng thần chói lọi phủ trên vai
Tôi đến đặt hoa bên những tượng đài
Cái xanh cái đỏ
Bằng sắt, bằng đồng
Bằng xi măng, cốt thép
Bằng cả đá kim cương
Tất cả lặng câm, vô cảm
Tôi trở về dòng sông
Vẫn dòng sông quê
Sao không gặp dòng sông xưa tôi tắm
Dòng sông đục ngàu
Cạn kiệt phù sa
Hoa cải đã tàn trên những lối tôi qua
Tôi đến tìm em
Em đã sang sông
Sao không nhớ lời ngày xưa mẹ dặn
Sông sâu chớ lội đò đầy chớ đi
 Một đời mải miết kiếm tìm
Chỉ còn thấy
Bên kia sông
Em
Mờ sương hư ảo
Và tôi
Hai bàn tay
Mang hành trang
Trắng toát mồ hôi
         
TÔI SẼ VỀ

Em mang vầng trăng của tôi về đâu
Đến mảnh khuyết cũng không còn thấy nữa
Tôi trắng tay giữa cuộc đời sấp ngửa
Canh bạc này em thắng được bao nhiêu

Cầm lá số trong ngọn gió xoay chiều
Tôi lạc lõng giữa phố phường chật chội
Em cứ bảo trái tim tôi nông nổi
Canh bạc nào rồi cũng trắng tay thôi

Giữa sòng đời tôi lảng tránh cuộc chơi
Đâu giám đặt cả niềm tin vào đĩa
Thôi xin người đừng ghi tên tôi nữa
Tôi sẽ về hát khúc hát riêng tôi

Dẫu ngày xưa còn ở phía xa xôi
Tôi vẫn đợi tuổi thơ về gõ cửa
Đợi cả em! Đợi cả em về nữa
Để chúng mình lại thả cánh diều chơi

CÂU THƠ LẠC NGƯỜI
 
Giá đừng quay lại đằng sau
Thì tôi đã hái được câu thơ rồi
Trời ơi! Đôi mắt em cười
Làm tan nát cả mảnh trời trong tôi

Vai em tựa với vai người
Bỏ riêng tôi tựa tiếng cười ngày xưa
Trời làm nhàu nát giấc mơ
Tôi về thương mấy câu thơ tội tình


Em vẽ bức tranh làng

Em vẽ tranh làng ta
Xanh xanh bờ tre, đồng lúa
Bãi mía nương dâu
Ngọt lịm giấc mơ vàng
Một dòng sông cạn nguồn
Kiệt cùng dâng phù sa
Nhở nham nghèo khó
Nép trong xóm nhỏ
Mái nhà tranh
Bảng lảng khói lam chiều

Làng mạc
Gương mặt người sạm đen nắng gió
Quần nâu, áo vá, chân trần
Lập nên làng từ bao giờ không rõ
Trong bức tranh em vẽ
Có rạ rơm nồng nàn hương lúa
Vương trên khuôn mặt con người
Rạng rỡ nụ cười, hồng tươi vầng trán
Em lại tô màu xanh
Lồng lộng trời cao xanh thẳm
Bức tranh của em
Có cây đa ngàn năm vững chãi
Những chùm rễ xum xuê
Cắm sâu vào đất
Giữ chặt lấy làng
Trong âm vang sáo chiều
Anh nghe thấy tiếng gọi nhau í ới
Chè xanh buổi sớm
Lửa ấm buổi chiều
Thấy hồn làng rung rung trong nét vẽ
Và cả chúng ta thời trẻ
Nắm tay nhau
Trong mảng màu hạnh phúc.

Rét

Tưởng rằng đông đã hết rồi
Mà sao vẫn rét tái trời thế em
Hội làng chắc ít người xem
Chẳng còn bầu rượu nắm nem ai cầm

Chỉ còn một chút tri ân
Để ông đồ viết chữ tâm ven đường
Ta đi từ cõi vô thường
Cầm cành lộc biếc mà thương kiếp người

Mai nay đông cạn kiệt rồi
Liệu còn bông gạo cháy trời không em.


Chiều

Đưa tôi một tiếng chuông ngân
Chiều về cuối bãi tắt dần hoàng hôn
Lang thang mây ngẩn ngơ buồn
Ngang trời vạch một nỗi buồn chia tay

Em đi tránh rét

Đau ngang trời sâu một vệt tiễn đưa
Em dằn lòng về bên kia tránh rét
Không chịu được cái mùa đông khắc nghiệt
Dẫu biết rằng nơi ấy cuối mùa thu.

THƯỢNG TỌA THÍCH TRƯỜNG XUÂN


CHÚT HỒN QUÊ

Hè về nhớ bát canh chua
Nhớ canh rau bợ nấu cua, mẹ làm
Cơm ăn no bụng còn ham
Canh rau muống luộc chứa chan bao tình
Cà ngâm muối mặn trắng tinh
Gợi cho ta nhớ bóng hình của ai
Dù cho cách vạn đường dài
Xa quê vẫn nhớ bóng ai âm thầm
Hồn quê giữ trọn trong tâm
Xa quê mới thấy tình thâm quê nhà.


HÀ TÂY- MẢNH ĐẤT ĐỊA LINH NHÂN KIỆT

Non Sài tháng 3 năm Mậu Tý
Thích Trường Xuân

Bóng chiếc thoi đưa ánh mắt long lanh
Trời đất Hà Tây tay em dệt lụa
Về Hà Tây, một mảnh đất địa linh nhân kiệt, ta không chỉ thấy được những thảm lúa trĩu bông, những con đường phẳng mịn, những làng quê trù phú, mà Hà Tây còn nổi tiếng với những di tích thắng cảnh lịch sử nổi tiếng như Chùa Hương (Mỹ Đức), Chùa Tây Phương (Thạch Thất), Chùa Thầy (Quốc Oai), Chùa Trăm Gian, Chùa Trầm (Chương Mỹ) khu du lịch Ao Vua, Suối Tiên (Ba Vì), đất hai vua Đường Lâm (Sơn Tây)… Ngoài ra khi đến với Hà Tây, chúng ta còn thấy được những nét văn hoá đáng trân trọng và tự hào của những con người đầy tài hoa và mến khách đã đi vào lịch sử và thơ ca dân tộc như những nét son đầy vinh dự tự hào của quê hương như truyền thuyết Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Người anh hùng dân tộc đã đánh đổ ách thống trị của các triều đại Trung Hoa Ngô Quyền… rồi những cái tên Nguyễn Trãi, Phùng Khắc Khoan, Phan Huy Chú và gần đây nhất là Tản Đà và vô số những con người khác trong thời kỳ đổi mới cũng đã tạo nên một diện mạo, một niềm vinh dự, tự hào cho Hà Tây.
Thật vậy, với vị trí địa lý nằm ở phía tây Kinh thành Thăng Long có hình thế đẹp mà nhà bác học Phan Huy Chú đã viết: “Trấn Sơn Tây là một khu hình thế tốt đẹp và chỗ đất có hình thế hùng hậu. Trấn Sơn Nam đất tụ khí anh hoa tục gọi là văn nhã thực là cái bình phong phên chắn của trung đô là kho tàng của nhà Vua”, và tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng, Hà Tây được coi là một trong những cái nôi của nền văn hoá đồng bằng Châu thổ sông Hồng, đồng thời nơi đây cũng là cửa ngõ chính để đi đến với thủ đô Hà Nội nơi xưa kia là kinh đô hoa lệ ngàn năm văn vật của nước Nam. Không chỉ có thế, cũng chính nhờ nằm trong vị trí địa lý có nhiều điều kiện thuận lợi, vùng bình địa trên đất Hà Tây được hình thành từ nhiều con sông đầy thơ mộng như sông Hồng, sông Đà, sông Tích, sông Đáy, sông Nhuệ nên nền văn hoá nơi đây cũng in đậm nền văn hoá nông nghiệp lúa nước tức là dấu ấn từ cây lúa, từ thửa ruộng, từ con trâu cái cày và những người nông dân hai sương một nắng sẽ là những chủ đề chính cho Tục ngữ, Ca dao, Dân ca Hà Tây có cơ hội cất lên tiếng nói riêng. Bên cạnh đó, do nền kinh tế chính của Hà Tây là nông nghiệp mà thời gian nông vụ thì có hạn nên “ngày ba tháng tám” nhàn rỗi, những con người cần cù, chịu thương chịu khó của quê lụa yêu thương không chịu để yên chân tay, họ lại nghĩ ra muôn nghìn công việc khác, bởi thế trên đất Hà Tây đã dần dần hình thành những làng nghề truyền thống nổi tiếng như nghề dệt lụa, nghề làm nón, nghề làm quạt, nghề làm mây tre đan, nghề làm tượng, nghề khảm trai… Mặt khác, sau khi mùa màng bội thu, những khi nhàn hạ và những lúc chuẩn bị cho một mùa mới, những con người Hà Tây dần hình thành những nét văn hoá riêng độc đáo cho họ, đó là việc tổ chức lễ hội. Trong lễ hội thì việc đầu tiên sẽ là tưởng nhớ tới tổ tiên, tưởng nhớ đến các vị thần hoàng làng đã giúp đỡ, phù hộ và bảo vệ cho họ có được những thắng lợi trong mùa màng cũng như khi giặc giã. Rồi kế đến là các cuộc thi đầy hấp dẫn như đấu vật, chọi gà, cờ người, bắt vịt, bịt mắt bắt dê… hẳn chúng ta chưa thể quên những câu tục ngữ, ca dao mang màu sắc riêng:
Cha đánh thì mẹ lại cười
Quyết con không bỏ mồng mười chợ Chuông
Cha đánh thì mẹ lại nuông
Quyết con không bỏ chợ Chuông mồng mười
Hay:
Con ơi con ngủ cho lành
Để mẹ đong gạo chợ Đanh chợ Đình
Hoặc:
Yêu nhau mua quạt Dân Hoà
Qua Chuông mua nón làm quà tặng nhau
Những câu đồng dao cũng khá hấp dẫn như: Cơm chợ Chúc bánh đúc Ngô Tề, chè lam Thạch Xá, cá chép Mang Giang.
Hay: Bồ câu Đan Phượng, đục tượng Võ Lăng…
Những bài dân ca đã in đậm trong lòng mỗi người dân Hà Tây như những món ăn tinh thần không thể thiếu ví như “Muỗi đốt tứ tung”, “Một mình một bóng”, “Cửa đình” và nhắc đến món ăn tinh thần của Hà Tây, chúng ta không thể quên được nơi đây cũng là một trong tứ chiếng Chèo nổi tiếng: Chèo xứ Đoài.
Không biết có tự bao giờ nhưng chèo xứ Đoài đã được người Hà Tây tiếp cận một cách rất tự nhiên và hào hứng, mỗi khi có dịp nghe chèo Hà Tây, ta như cảm nhận được từng hơi thở, từng nhịp đập của con người, của nhịp sống đang tuôn chảy trong mảnh đất địa linh nhân kiệt này và điều đặc biệt hơn là bằng những lối diễn đầy sáng tạo, phong cách và giọng hát trìu mến, truyền cảm, các nghệ nhân, nghệ sĩ trong làng chèo xứ Đoài sẽ tạo ra những nét riêng mà không nơi nào có được.
Cùng với nghệ thuật chèo, múa rối đã trở thành một sản phẩm tinh thần tuyệt hảo cho mảnh đất thân yêu này, đây được coi là cái nôi của nền rối nước Việt Nam. Chuyện xa kể lại rằng cách đây dã lâu lắm, khi mà việc ngăn ngừa thiên tai lũ lụt của chúng ta bị hạn chế thì tại chùa Thầy, tổng Thầy (nay thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai) đã có một trận lụt lớn, các pho tượng hầu như bị dòng nước cuốn trôi và khi nước không còn cuộn chảy nữa thì các pho tượng nổi bồng bềnh trên mặt nước, Đức thánh Từ Đạo Hạnh thấy rằng nếu cứ để tình trạng vậy thì sẽ ảnh hưởng lớn đến phật pháp, và người tìm cách để vừa truyền được phật pháp, vừa mang lại những món ăn tinh thần cho những người dân tổng Thầy vừa bị lũ lụt hoành hành: Bộ môn nghệ thuật múa rối rước ra đời.
Tục ngữ, Ca dao Hà Tây còn nêu lên rất nhiều những làng nghề nổi tiếng, những con người tài hoa như: Sơn mài Hạ Thái, khảm trai Chuyên Mỹ, nón Chuông, lụa Vạn Phúc, dệt Phùng Xá, tơ tằm Trinh Tiết.
Hay: Gái Kim Bài, Trai Kẻ Vác
        Pháo Bình Đà, Gà đất Tía…
Hà Tây cũng là một trong những điểm đến của du khách trong và ngoài nước, các khu di tích, danh lam thắng cảnh nổi tiếng đã được hội tụ trên đất Hà Tây như một phần thưởng của tạo hoá cho những con người đầy tài hoa trên đất Hà Tây vậy. Chúng ta hãy dừng chân tại chùa Hương, nơi đây được xem là “Nam Thiên đệ nhất động”, ngoài việc du khách đến với mục đích tín ngưỡng, các hang động, các dãy núi đã tạo cho Hương Sơn một vẻ hùng vĩ nhưng rất linh thiêng và thơ mộng:
Bầu trời cảnh phật
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa non non nước nước mây mây
Đệ nhất động hỏi rằng đây có phải
Thỏ thẻ rừng mai chim cùng trái
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh
Ngoài Hương Sơn, chúng ta lại đến với chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Trăm Gian, chùa Trầm, chùa Mía, chùa Đậu… vẫn còn văn vẳng đâu đây câu ca dao:
Nhớ ngày mồng bảy tháng ba
Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy
Hoặc:
Ai ơi mồng sáu tháng ba
Ăn cơm với cà trảy hội Tây Phương
Còn biết bao ngôi chùa nổi tiếng và biết bao địa danh tạo nên bao huyền thoại cho mảnh đất Hà Tây, mà nơi đây đã sinh ra và nuôi dưỡng nên hơn 300 vị tiến sĩ và các danh nhân văn hoá anh hùng dân tộc mà tên tuổi được ghi vào lịch sử đất nước như: Ngô Quyền, Phùng Hưng, Đỗ Kính Tu, bậc tài hoa lỗi lạc như Nguyễn Trãi, Phan Huy Chú, Nguyễn Trực, Ngô Sỹ Liên, Lý Tử Tấn, Phùng Khắc Khoan, Trần Thế Vinh, Nguyễn Thượng Hiền… Núi sông tinh hoa của trời đất cũng đã sinh ra biết bao các bậc cao tăng thạc đức thì Hà Tây cũng là nơi các bậc cao tăng nổi tiếng hội tụ như Ngộ ấn Thiền sư người Kim Bài, sau khi tu hành đắc đạo ngài đã về núi Phượng Hoàng lập am tu hành gọi là Long Ân (sau đổi tên chùa là Linh Thông), Đức thánh Từ Đạo Hạnh (chùa Thầy), Đức thánh Bối (chùa Bối Khê), hai vị thiền sư nổi tiếng chùa Đậu Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường, Hoà thượng Tố Liên, Hoà thượng Thanh Chân (chùa Hương), Hoà thượng Thanh Cam (chùa Thần Quy), Hoà thượng Thanh Viên (Võ Lăng – Thanh Oai), Thượng toạ Viên Thành cùng các Ni trưởng như Đàm Tiếp, Đàm Đức, Đàm Hiển, Đàm Nghi, Đàm Xuân, Đàm Hiền, Đàm Phương. Trong hai cuộc kháng chiến nhiều chùa trong tỉnh là cơ sở bí mật cho cán bộ cách mạng như chùa Một Mái, chùa Long Đẩu, chùa Khánh Tân, chùa Hải Giác… và nhiều vị Tăng Ni đã tham gia hoạt động cách mạng như sư Thanh Trang chùa Hải Giác - Đan Phượng, nhà sư Đinh Quang Thành – sinh năm 1922 tại Gia Lâm và tu hành tại chùa Tạ Xá - Phú Xuyên là chi uỷ viên, phó Chủ tịch uỷ ban kháng chiến hành chính xã, sư thầy Đàm Hiền, Đàm Thìn – chùa Khánh Tân, Sài Sơn là những nhà sư cách mạng kiên trung đáng là tấm gương sáng trong lịch sử của Tăng ni Việt Nam và thật vinh dự cho Hà Tây vừa qua Đại hội VI của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã cung thỉnh Hoà thượng Thích Phổ Tuệ lên ngôi Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam. Và biết bao nhiêu các bậc cao Tăng xưa và nay đã và đang tích cực đóng góp vào các phong trào xây dựng, bảo vệ đất nước đó là niềm tự hào cho mảnh đất Hà Tây xứng với danh Địa Linh Nhân Kiệt.
Vâng! Hà Tây quả là một vùng đất nổi tiếng với biết bao lịch sử và huyền thoại, biết bao danh lam, di tích, biết bao các anh hùng tuấn kiệt cùng biết bao các vị cao tăng thạc đức.
Để kết thúc bài này, xin được khép lại với bài thơ đầy ngẫu hứng:
Hà Tây mảnh đất trăm nghề
Giàu lòng yêu nước, yêu quê lụa mình
Lung linh in những mái đình
Cây đa bến nước gợi tình nên thơ
Còn đây là những mái chùa
Lời kinh tiếng mõ như xua lụy phiền
Chuông ngân vang vọng cửa thiền
Để ta nhớ mãi những miền quê ta./.

Giới thiệu và bình về tác giả Thích Trường Xuân

CHUYỆN MỘT SƯ THẦY: MÊ CHÈO, DIỄN RẤT NGỌT.
(Dân Việt) - Đại đức Thích Trường Xuân là một người “kỳ lạ”. Trong nghiệp tu hành của thầy có tỡnh yờu dành cho văn nghệ. Cũng một phần nhờ thế, cửa chùa càng mở rộng thêm với cuộc đời.
Theo một được hai!
Quê thầy ở thôn Ninh Sơn, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội, có thể coi như một may mắn khi thầy về trụ trì ngôi chựa Linh Thông, cũn gọi là chùa Ninh ở quê nhà. Chùa nằm trên núi con Phượng, nhìn sang núi Long, Ly, Quy – một quần thể núi và cây xanh rất đẹp mà người xưa đã khéo trông hình đặt tên. Sống giữa miền sơn thanh cảnh tú ấy, hồn người cũng thêm bay bổng.
Đại đức Thích Trường Xuân diễn vai Dương Lễ
trong vở Lưu Bình Dương Lễ.

Cùng quê và là bạn với thầy Xuân có NSƯT Văn Chương với giọng chèo, giọng hát văn danh tiếng. Hồi nhỏ, hồi thanh niên và ngay đến bây giờ thầy Xuân rất mê chèo. Thầy kể vui: “Hồi bé tôi cũng ước mơ làm diễn viên chèo đấy, nhưng giữa tu hành và đi theo nghệ thuật, tôi chỉ có thể chọn một. Nay hoằng dương Phật pháp, tôi lại được cả hai!”.
Một trong hai điều mà thầy được ấy, chính là phong trào văn nghệ mà thầy đó khởi xướng ở địa phương những năm qua, trong đó chính thầy cũng là một diễn viên quần chúng tích cực. Tôi đó được dự một đêm văn nghệ ở Phụng Châu với các tiết mục do Đoàn chèo Hà Tây cũ (nay là Đoàn 3 Nhà hát Chèo Hà Nội) hướng dẫn. Nam nữ thanh niên diễn “Thị Mầu lên chùa”, “Thầy đồ dạy học”, hát “Đào liễu”, “Duyên phận phải chiều”… rất ngọt.
Thầy Xuân buộc khăn trên đầu, đứng trong đám trai làng trang phục truyền thống rực rỡ, cùng hát như một người nông dân thuần phác. Rồi thầy bận áo chùng, đội khăn xếp, cầm quạt vào vai chàng Dương Lễ tiễn nàng Châu Long đi thay chồng nuôi bạn. Diễn xuất của thầy cũng chân thành, tha thiết như ai! Giọng thầy, nếu đem “barem” nghệ thuật quần chúng vào so thì khó mà chờ được!
Và khụng chỉ ở Phụng Chõu, thầy cũn phỏt triển phong trào ở xó Sài Sơn, huyện Quốc Oai nơi thầy trụ trỡ chựa Long Đẩu nằm đối diện chùa Thầy huyền thoại ở bên kia hồ nước. Thuở xưa, Thiền sư Từ Đạo Hạnh về chốn Sài Sơn truyền pháp, dạy dân múa rối nước, quan tâm đến dân cả cái ăn, nết ở. Phải chăng linh khí xưa cũng vọng về trợ duyên cho các đệ tử sau này?
Sư thầy học tổ chức sự kiện
Dịp hội chùa Thầy năm nay, Đại đức Thích Trường Xuân khiến cho không khí thêm phần sôi nổi và đa sắc màu văn hóa khi trưng bày triển lóm ảnh ngoài trời được in khổ lớn với nhiều tác phẩm của các nghệ sĩ chuyên nghiệp, thể hiện vẻ đẹp non nước núi Sài.
Lần đầu tiên thầy tổ chức đêm thơ vào tối thứ Bảy tháng 3 âm lịch với cả ngàn khán giả quần chúng ngồi kín rạp, nghe nói chuyện về thơ, nghe các nghệ sĩ chuyên nghiệp ngâm những bài thơ nổi tiếng về chùa Thầy. Năm nào thầy cũng tổ chức văn nghệ mừng hội Thầy và có những lần đưa các em sang cả chùa Hương diễn khai hội. “Kịch mục” của “đoàn nghệ thuật nhà chùa” khá phong phú với nhiều bài ca, trích đoạn chèo, hoạt cảnh về Bồ Tát Mục Kiền Liên cứu mẹ, bài múa “Thiên thủ Quan âm”…
Nhiều kỳ cuộc khác trong năm ở Phụng Châu và Sài Sơn, rồi những chuyến thầy đi thăm tặng quà tại các trung tâm bảo trợ xó hội, tiếng hát, điệu múa của các thanh thiếu niên Phật tử càng làm cho không khí ấm cúng thêm phần sinh động.
Từ khi thầy Xuân chắp cánh cho lời ca tiếng hát, phong trào văn nghệ quần chúng ở Phụng Châu và Sài Sơn được thêm phần sôi nổi. Người ta tham dự nhiều hơn, mỗi khi có kỳ cuộc, đông đảo bà con thôn xóm lại kéo nhau đi thưởng thức các màn diễn của người làng mình, quê mình.
Ít người biết, thầy Xuân đó theo một khóa học đạo diễn - tổ chức sự kiện ở Trường ĐH SKĐA Hà Nội. Thầy chia sẻ, muốn hoạt động được tốt hơn, có chất lượng, hiệu quả hơn, kêu gọi được nhiều người tham gia để họ được tiếp xúc nhiều hơn với văn hoá nghệ thuật thì mình phải biết cách làm, biết cách vận động, tổ chức.
Bận bịu với các việc Phật sự ở hai chùa, với các công tác mà thầy đảm đương ở Giáo hội Phật giáo thành phố, rồi giảng dạy Phật học, thầy Xuân vẫn dành cho mình và cho mọi người một tình yêu bền bỉ với nghệ thuật. Nó khiến công việc tu hành gần gũi với nhân quần hơn và cộng đồng cũng cảm thấy nhà chùa không có gì xa cách.
Hoàng Thi

Chúc tết

Chúc mừng năm mới khắp toàn gia
Hạnh phúc an khang đến trẻ già
Lộc tài thịnh vượng luôn tiến triển
Đất nước phồn vinh được thái hoà


Xuân Về

E ấp cành non hé nụ hồng
Thẹn thùng đón đợi gió đông phong
Mơn mởn xuân về cành lộc biếc
Rạo rực đầu non én liệng vòng


Xuân Tân Mão

Xuân Về Như ý trọn niềm vui
Phú quý vinh hoa nở nụ cười
Tài lộc hanh thông an khang thịnh
Sức khoẻ tăng thêm khắp mọi người

Vui đón xuân về khắp nơi nơi
Gửi câu chúc tết đến mọi người
Thịnh vượng an khang sự nghiệp phát
Sức khoẻ dồi dào thế là vui.

Tết Nhâm Dần

Vui nào bằng tết đến nhà
Mừng sao xuân đến gần xa đều cười
Chúc sao  có vạn niềm vui
Những điều mơ ước mọi người thành công
Vô đề 1

Tết về náo nức khắp gần xa
Xuân đến niềm vui khắp trẻ già
Cùng ta chúc câu tết mới
Phúc lộc vẹn toàn nở như hoa.

Sắc xuân

Ngàn hoa  đua sắc khoe cười
Xuân về tất cả mọi người hân hoan
Khí xuân tươi tốt ngập tràn
Chim về vỗ cánh trên ngàn mừng vui
Rộn vang ca khắp núi đồi
Trời xuân như muốn đón người vui chung


Vô đề 2

Đào mai khoe sắc đầy sân
Gió  đông như cũng nguôi dần tái tê
én đâu tung cánh bay về
Cành non mơn mởn tràn đầy sức xuân
Trời quang tỏa ánh tường vân
Nước non ngàn dặm muôn phần tốt tươi

Dáng Mai

Mảnh khảnh thân mình dáng nàng mai
Tuế nguyệt thi gan với hình hài
Ngọc thể trắng trong còn nguyên đó
Gió thét mưa gầm chẳng nhạt phai

E ấp nàng mai dáng ngại ngùng
Buồn thân nhi nữ ở thâm cung
Cái tuổi xuân thì đang trỗi dậy
Đêm đông giá buốt gió lạnh lùng

Hương Bưởi

Hôm đi qua ngõ  nhà em
Nửa như lạ nửa như quen thủa nào
Lạ vì trong dạ xôn xao
Mỗi ngày qua ngõ biết bao nhiêu lần
Rối bời lòng dạ phân vân
Muốn vào mà ngại, tần ngần trở ra
Bỗng nhìn cây bưởi trắng  hoa
Thấy quen  như thủa mẹ, bà ngày xưa
Lấy bông bưởi tắm trẻ thơ
Hương hoa bưởi, gội tóc xơ  thành mềm
Cài bông hoa bưởi  làm duyên
Mùi hương toả ngát mái hiên trước nhà
Thương em ngơ ngẩn vào ra
Ngắt bông bưởi trắng làm quà tặng em

17/7/11


CHÙA QUÊ

Cửa thiền một ánh trăng trong
Tiếng chuông khuya điểm thấy lòng thảnh thơi
Mái cong ôm trọn bầu trời
Cũng như dáng mẹ cuộc đời ôm con
Một thời nét vẽ vàng son
Dẫu qua năm tháng vẫn còn như xưa
Trải bao thế cuộc nắng mưa
Vẫn in dấu tích ngàn xưa vọng về
Đó là bóng dáng chùa quê
Nét rêu phong vẫn hiện về trong tôi
Đã qua năm tháng cuộc đời
Mái chùa in đậm trong tôi thủa nào
Vẫn như lời hát ngọt ngào
Bên nôi mẹ kể đi vào giấc mơ
“Quê Tôi có gió bốn mùa
Có trăng giữa tháng có chùa quanh năm”(*)


CHÚT HỒN QUÊ


Hè về nhớ bát canh chua
Nhớ canh rau bợ nấu cua, mẹ làm
Cơm ăn no bụng còn ham
Canh rau muống luộc chứa chan bao tình
Cà ngâm muối mặn trắng tinh
Gợi cho ta nhớ bóng hình của ai
Dù cho cách vạn đường dài
Xa quê vẫn nhớ bóng ai âm thầm
Hồn quê giữ trọn trong tâm
Xa quê mới thấy tình thâm quê nhà

HOA TẶNG MẸ


Mẹ là ánh sáng thái dương
Là cây toả mát đoạn đường theo con
Mẹ là ánh của trăng tròn
Là sông con tắm là nguồn con bơi
Mẹ là thuyền giữa biển khơi
Đưa con đến bến, chân trời ước mơ
Nhưng rồi con vẫn dại khờ
Bước đi chập chững mịt mờ lối quen
Mẹ như ngọn nến trong đêm
Lại soi cho bước chân quen con về
Con như sực tỉnh bến mê
Quay về bờ giác bồ đề độ sinh
Nguyện lời cứu vớt hàm linh
Bó hoa dâng Mẹ chứng minh lòng thành

23/4/2012 (3/4 Nhâm Thìn)


(*) Ý câu thơ mượn của tác giả Nguyễn Bính.