CHÚT HỒN QUÊ
Hè về nhớ bát canh chua
Nhớ canh rau bợ nấu cua, mẹ làm
Cơm ăn no bụng còn ham
Canh rau muống luộc chứa chan bao tình
Cà ngâm muối mặn trắng tinh
Gợi cho ta nhớ bóng hình của ai
Dù cho cách vạn đường dài
Xa quê vẫn nhớ bóng ai âm thầm
Hồn quê giữ trọn trong tâm
Xa quê mới thấy tình thâm quê nhà.
HÀ TÂY- MẢNH ĐẤT ĐỊA LINH NHÂN KIỆT
Non Sài tháng 3 năm Mậu Tý
Thích
Trường Xuân
Bóng
chiếc thoi đưa ánh mắt long lanh
Trời
đất Hà Tây tay em dệt lụa
Về Hà Tây, một mảnh đất địa linh nhân kiệt, ta
không chỉ thấy được những thảm lúa trĩu bông, những con đường phẳng mịn, những
làng quê trù phú, mà Hà Tây còn nổi tiếng với những di tích thắng cảnh lịch sử
nổi tiếng như Chùa Hương (Mỹ Đức), Chùa Tây Phương (Thạch Thất), Chùa Thầy
(Quốc Oai), Chùa Trăm Gian, Chùa Trầm (Chương Mỹ) khu du lịch Ao Vua, Suối Tiên
(Ba Vì), đất hai vua Đường Lâm (Sơn Tây)… Ngoài ra khi đến với Hà Tây, chúng ta
còn thấy được những nét văn hoá đáng trân trọng và tự hào của những con người
đầy tài hoa và mến khách đã đi vào lịch sử và thơ ca dân tộc như những nét son
đầy vinh dự tự hào của quê hương như truyền thuyết Sơn Tinh Thuỷ Tinh, Người
anh hùng dân tộc đã đánh đổ ách thống trị của các triều đại Trung Hoa Ngô
Quyền… rồi những cái tên Nguyễn Trãi, Phùng Khắc Khoan, Phan Huy Chú và gần đây
nhất là Tản Đà và vô số những con người khác trong thời kỳ đổi mới cũng đã tạo
nên một diện mạo, một niềm vinh dự, tự hào cho Hà Tây.
Thật vậy, với vị trí địa lý nằm ở phía tây Kinh
thành Thăng Long có hình thế đẹp mà nhà bác học Phan Huy Chú đã viết: “Trấn Sơn
Tây là một khu hình thế tốt đẹp và chỗ đất có hình thế hùng hậu. Trấn Sơn Nam
đất tụ khí anh hoa tục gọi là văn nhã thực là cái bình phong phên chắn của
trung đô là kho tàng của nhà Vua”, và tài nguyên thiên nhiên phong phú đa dạng,
Hà Tây được coi là một trong những cái nôi của nền văn hoá đồng bằng Châu thổ
sông Hồng, đồng thời nơi đây cũng là cửa ngõ chính để đi đến với thủ đô Hà Nội
nơi xưa kia là kinh đô hoa lệ ngàn năm văn vật của nước Nam. Không chỉ có thế,
cũng chính nhờ nằm trong vị trí địa lý có nhiều điều kiện thuận lợi, vùng bình
địa trên đất Hà Tây được hình thành từ nhiều con sông đầy thơ mộng như sông
Hồng, sông Đà, sông Tích, sông Đáy, sông Nhuệ nên nền văn hoá nơi đây cũng in
đậm nền văn hoá nông nghiệp lúa nước tức là dấu ấn từ cây lúa, từ thửa ruộng,
từ con trâu cái cày và những người nông dân hai sương một nắng sẽ là những chủ
đề chính cho Tục ngữ, Ca dao, Dân ca Hà Tây có cơ hội cất lên tiếng nói riêng.
Bên cạnh đó, do nền kinh tế chính của Hà Tây là nông nghiệp mà thời gian nông
vụ thì có hạn nên “ngày ba tháng tám” nhàn rỗi, những con người cần cù, chịu
thương chịu khó của quê lụa yêu thương không chịu để yên chân tay, họ lại nghĩ
ra muôn nghìn công việc khác, bởi thế trên đất Hà Tây đã dần dần hình thành
những làng nghề truyền thống nổi tiếng như nghề dệt lụa, nghề làm nón, nghề làm
quạt, nghề làm mây tre đan, nghề làm tượng, nghề khảm trai… Mặt khác, sau khi
mùa màng bội thu, những khi nhàn hạ và những lúc chuẩn bị cho một mùa mới,
những con người Hà Tây dần hình thành những nét văn hoá riêng độc đáo cho họ,
đó là việc tổ chức lễ hội. Trong lễ hội thì việc đầu tiên sẽ là tưởng nhớ tới
tổ tiên, tưởng nhớ đến các vị thần hoàng làng đã giúp đỡ, phù hộ và bảo vệ cho
họ có được những thắng lợi trong mùa màng cũng như khi giặc giã. Rồi kế đến là
các cuộc thi đầy hấp dẫn như đấu vật, chọi gà, cờ người, bắt vịt, bịt mắt bắt
dê… hẳn chúng ta chưa thể quên những câu tục ngữ, ca dao mang màu sắc riêng:
Cha
đánh thì mẹ lại cười
Quyết
con không bỏ mồng mười chợ Chuông
Cha
đánh thì mẹ lại nuông
Quyết
con không bỏ chợ Chuông mồng mười
Hay:
Con ơi con ngủ cho lành
Để mẹ đong gạo chợ Đanh chợ Đình
Hoặc:
Yêu nhau mua quạt Dân Hoà
Qua Chuông mua nón làm quà tặng nhau
Những câu đồng dao cũng khá
hấp dẫn như: Cơm chợ Chúc bánh đúc Ngô
Tề, chè lam Thạch Xá, cá chép Mang Giang.
Hay: Bồ câu Đan Phượng, đục tượng Võ Lăng…
Những bài dân ca đã in đậm
trong lòng mỗi người dân Hà Tây như những món ăn tinh thần không thể thiếu ví
như “Muỗi đốt tứ tung”, “Một mình một bóng”, “Cửa đình” và nhắc đến món ăn tinh
thần của Hà Tây, chúng ta không thể quên được nơi đây cũng là một trong tứ
chiếng Chèo nổi tiếng: Chèo xứ Đoài.
Không biết có tự bao giờ
nhưng chèo xứ Đoài đã được người Hà Tây tiếp cận một cách rất tự nhiên và hào
hứng, mỗi khi có dịp nghe chèo Hà Tây, ta như cảm nhận được từng hơi thở, từng
nhịp đập của con người, của nhịp sống đang tuôn chảy trong mảnh đất địa linh
nhân kiệt này và điều đặc biệt hơn là bằng những lối diễn đầy sáng tạo, phong
cách và giọng hát trìu mến, truyền cảm, các nghệ nhân, nghệ sĩ trong làng chèo
xứ Đoài sẽ tạo ra những nét riêng mà không nơi nào có được.
Cùng với nghệ thuật chèo,
múa rối đã trở thành một sản phẩm tinh thần tuyệt hảo cho mảnh đất thân yêu
này, đây được coi là cái nôi của nền rối nước Việt Nam. Chuyện xa kể lại rằng
cách đây dã lâu lắm, khi mà việc ngăn ngừa thiên tai lũ lụt của chúng ta bị hạn
chế thì tại chùa Thầy, tổng Thầy (nay thuộc xã Sài Sơn, huyện Quốc Oai) đã có
một trận lụt lớn, các pho tượng hầu như bị dòng nước cuốn trôi và khi nước
không còn cuộn chảy nữa thì các pho tượng nổi bồng bềnh trên mặt nước, Đức
thánh Từ Đạo Hạnh thấy rằng nếu cứ để tình trạng vậy thì sẽ ảnh hưởng lớn đến
phật pháp, và người tìm cách để vừa truyền được phật pháp, vừa mang lại những
món ăn tinh thần cho những người dân tổng Thầy vừa bị lũ lụt hoành hành: Bộ môn
nghệ thuật múa rối rước ra đời.
Tục ngữ, Ca dao Hà Tây còn
nêu lên rất nhiều những làng nghề nổi tiếng, những con người tài hoa như: Sơn mài Hạ Thái, khảm trai Chuyên Mỹ, nón
Chuông, lụa Vạn Phúc, dệt Phùng Xá, tơ tằm Trinh Tiết.
Hay: Gái Kim Bài, Trai Kẻ Vác
Pháo
Bình Đà, Gà đất Tía…
Hà Tây cũng là một trong
những điểm đến của du khách trong và ngoài nước, các khu di tích, danh lam
thắng cảnh nổi tiếng đã được hội tụ trên đất Hà Tây như một phần thưởng của tạo
hoá cho những con người đầy tài hoa trên đất Hà Tây vậy. Chúng ta hãy dừng chân
tại chùa Hương, nơi đây được xem là “Nam Thiên đệ nhất động”, ngoài việc du
khách đến với mục đích tín ngưỡng, các hang động, các dãy núi đã tạo cho Hương
Sơn một vẻ hùng vĩ nhưng rất linh thiêng và thơ mộng:
Bầu trời cảnh phật
Thú Hương Sơn ao ước bấy lâu nay
Kìa non non nước nước mây mây
Đệ nhất động hỏi rằng đây có phải
Thỏ thẻ rừng mai chim cùng trái
Lững lờ khe Yến cá nghe kinh
Ngoài Hương Sơn, chúng ta
lại đến với chùa Thầy, chùa Tây Phương, chùa Trăm Gian, chùa Trầm, chùa Mía, chùa
Đậu… vẫn còn văn vẳng đâu đây câu ca dao:
Nhớ ngày mồng bảy tháng ba
Trở vào hội Láng, trở ra hội Thầy
Hoặc:
Ai ơi mồng sáu tháng ba
Ăn cơm với cà trảy hội Tây Phương
Còn biết bao ngôi chùa nổi
tiếng và biết bao địa danh tạo nên bao huyền thoại cho mảnh đất Hà Tây, mà nơi
đây đã sinh ra và nuôi dưỡng nên hơn 300 vị tiến sĩ và các danh nhân văn hoá
anh hùng dân tộc mà tên tuổi được ghi vào lịch sử đất nước như: Ngô Quyền,
Phùng Hưng, Đỗ Kính Tu, bậc tài hoa lỗi lạc như Nguyễn Trãi, Phan Huy Chú,
Nguyễn Trực, Ngô Sỹ Liên, Lý Tử Tấn, Phùng Khắc Khoan, Trần Thế Vinh, Nguyễn
Thượng Hiền… Núi sông tinh hoa của trời đất cũng đã sinh ra biết bao các bậc
cao tăng thạc đức thì Hà Tây cũng là nơi các bậc cao tăng nổi tiếng hội tụ như
Ngộ ấn Thiền sư người Kim Bài, sau khi tu hành đắc đạo ngài đã về núi Phượng
Hoàng lập am tu hành gọi là Long Ân (sau đổi tên chùa là Linh Thông), Đức thánh
Từ Đạo Hạnh (chùa Thầy), Đức thánh Bối (chùa Bối Khê), hai vị thiền sư nổi
tiếng chùa Đậu Vũ Khắc Minh và Vũ Khắc Trường, Hoà thượng Tố Liên, Hoà thượng
Thanh Chân (chùa Hương), Hoà thượng Thanh Cam (chùa Thần Quy), Hoà thượng Thanh
Viên (Võ Lăng – Thanh Oai), Thượng toạ Viên Thành cùng các Ni trưởng như Đàm
Tiếp, Đàm Đức, Đàm Hiển, Đàm Nghi, Đàm Xuân, Đàm Hiền, Đàm Phương. Trong hai
cuộc kháng chiến nhiều chùa trong tỉnh là cơ sở bí mật cho cán bộ cách mạng như
chùa Một Mái, chùa Long Đẩu, chùa Khánh Tân, chùa Hải Giác… và nhiều vị Tăng Ni
đã tham gia hoạt động cách mạng như sư Thanh Trang chùa Hải Giác - Đan Phượng,
nhà sư Đinh Quang Thành – sinh năm 1922 tại Gia Lâm và tu hành tại chùa Tạ Xá -
Phú Xuyên là chi uỷ viên, phó Chủ tịch uỷ ban kháng chiến hành chính xã, sư
thầy Đàm Hiền, Đàm Thìn – chùa Khánh Tân, Sài Sơn là những nhà sư cách mạng
kiên trung đáng là tấm gương sáng trong lịch sử của Tăng ni Việt Nam và thật
vinh dự cho Hà Tây vừa qua Đại hội VI của Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã cung
thỉnh Hoà thượng Thích Phổ Tuệ lên ngôi Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
Và biết bao nhiêu các bậc cao Tăng xưa và nay đã và đang tích cực đóng góp vào
các phong trào xây dựng, bảo vệ đất nước đó là niềm tự hào cho mảnh đất Hà Tây
xứng với danh Địa Linh Nhân Kiệt.
Vâng! Hà Tây quả là một
vùng đất nổi tiếng với biết bao lịch sử và huyền thoại, biết bao danh lam, di
tích, biết bao các anh hùng tuấn kiệt cùng biết bao các vị cao tăng thạc đức.
Để kết thúc bài này, xin
được khép lại với bài thơ đầy ngẫu hứng:
Hà Tây mảnh đất trăm nghề
Giàu lòng yêu nước, yêu quê lụa mình
Lung linh in những mái đình
Cây đa bến nước gợi tình nên thơ
Còn đây là những mái chùa
Lời kinh tiếng mõ như xua lụy phiền
Chuông ngân vang vọng cửa thiền
Để ta nhớ mãi những miền quê ta./.
Giới thiệu và bình về tác giả Thích
Trường Xuân
CHUYỆN MỘT SƯ THẦY: MÊ CHÈO, DIỄN RẤT NGỌT.
(Dân Việt) - Đại đức Thích Trường Xuân là một người “kỳ
lạ”. Trong nghiệp tu hành của thầy có tỡnh yờu dành cho văn nghệ. Cũng một phần
nhờ thế, cửa chùa càng mở rộng thêm với cuộc đời.
Theo một được hai!
Quê thầy ở thôn Ninh Sơn, xã Phụng Châu, huyện Chương Mỹ, Hà Nội, có thể
coi như một may mắn khi thầy về trụ trì ngôi chựa Linh Thông, cũn gọi là chùa
Ninh ở quê nhà. Chùa nằm trên núi con Phượng, nhìn sang núi Long, Ly, Quy – một
quần thể núi và cây xanh rất đẹp mà người xưa đã khéo trông hình đặt tên. Sống
giữa miền sơn thanh cảnh tú ấy, hồn người cũng thêm bay bổng.
Đại
đức Thích Trường Xuân diễn vai Dương Lễ
trong
vở Lưu Bình Dương Lễ.
Cùng quê và là bạn
với thầy Xuân có NSƯT Văn Chương với giọng chèo, giọng hát văn danh tiếng. Hồi
nhỏ, hồi thanh niên và ngay đến bây giờ thầy Xuân rất mê chèo. Thầy kể vui:
“Hồi bé tôi cũng ước mơ làm diễn viên chèo đấy, nhưng giữa tu hành và đi theo
nghệ thuật, tôi chỉ có thể chọn một. Nay hoằng dương Phật pháp, tôi lại được cả
hai!”.
Một trong hai điều
mà thầy được ấy, chính là phong trào văn nghệ mà thầy đó khởi xướng ở địa
phương những năm qua, trong đó chính thầy cũng là một diễn viên quần chúng tích
cực. Tôi đó được dự một đêm văn nghệ ở Phụng Châu với các tiết mục do Đoàn chèo
Hà Tây cũ (nay là Đoàn 3 Nhà hát Chèo Hà Nội) hướng dẫn. Nam nữ thanh niên diễn
“Thị Mầu lên chùa”, “Thầy đồ dạy học”, hát “Đào liễu”, “Duyên phận phải chiều”…
rất ngọt.
Thầy Xuân buộc
khăn trên đầu, đứng trong đám trai làng trang phục truyền thống rực rỡ, cùng
hát như một người nông dân thuần phác. Rồi thầy bận áo chùng, đội khăn xếp, cầm
quạt vào vai chàng Dương Lễ tiễn nàng Châu Long đi thay chồng nuôi bạn. Diễn
xuất của thầy cũng chân thành, tha thiết như ai! Giọng thầy, nếu đem “barem” nghệ thuật quần chúng vào so thì
khó mà chờ được!
Và khụng chỉ ở
Phụng Chõu, thầy cũn phỏt triển phong trào ở xó Sài Sơn, huyện Quốc Oai nơi
thầy trụ trỡ chựa Long Đẩu nằm đối diện chùa Thầy huyền thoại ở bên kia hồ
nước. Thuở xưa, Thiền sư Từ Đạo Hạnh về chốn Sài Sơn truyền pháp, dạy dân múa
rối nước, quan tâm đến dân cả cái ăn, nết ở. Phải chăng linh khí xưa cũng vọng
về trợ duyên cho các đệ tử sau này?
Sư thầy học tổ
chức sự kiện
Dịp hội chùa Thầy
năm nay, Đại đức Thích Trường Xuân khiến cho
không khí thêm phần sôi nổi và đa sắc màu văn hóa khi trưng bày triển lóm ảnh
ngoài trời được in khổ lớn với nhiều tác phẩm của các nghệ sĩ chuyên nghiệp,
thể hiện vẻ đẹp non nước núi Sài.
Lần đầu tiên thầy tổ
chức đêm thơ vào tối thứ Bảy tháng 3 âm lịch với cả ngàn khán giả quần chúng
ngồi kín rạp, nghe nói chuyện về thơ, nghe các nghệ sĩ chuyên nghiệp ngâm những
bài thơ nổi tiếng về chùa Thầy. Năm nào thầy cũng tổ chức văn nghệ mừng hội
Thầy và có những lần đưa các em sang cả chùa Hương diễn khai hội. “Kịch mục”
của “đoàn nghệ thuật nhà chùa” khá phong phú với nhiều bài ca, trích đoạn chèo,
hoạt cảnh về Bồ Tát Mục Kiền Liên cứu mẹ, bài múa “Thiên thủ Quan âm”…
Nhiều kỳ cuộc khác
trong năm ở Phụng Châu và Sài Sơn, rồi những chuyến thầy đi thăm tặng quà tại
các trung tâm bảo trợ xó hội, tiếng hát, điệu múa của các thanh thiếu niên Phật
tử càng làm cho không khí ấm cúng thêm phần sinh động.
Từ khi thầy Xuân
chắp cánh cho lời ca tiếng hát, phong trào văn nghệ quần chúng ở Phụng Châu và
Sài Sơn được thêm phần sôi nổi. Người ta tham dự nhiều hơn, mỗi khi có kỳ cuộc,
đông đảo bà con thôn xóm lại kéo nhau đi thưởng thức các màn diễn của người
làng mình, quê mình.
Ít người biết,
thầy Xuân đó theo một khóa học đạo diễn - tổ chức sự kiện ở Trường ĐH SKĐA Hà
Nội. Thầy chia sẻ, muốn hoạt động được tốt hơn, có chất lượng, hiệu quả hơn,
kêu gọi được nhiều người tham gia để họ được tiếp xúc nhiều hơn với văn hoá
nghệ thuật thì mình phải biết cách làm, biết cách vận động, tổ chức.
Bận bịu với các
việc Phật sự ở hai chùa, với các công tác mà thầy đảm đương ở Giáo hội Phật
giáo thành phố, rồi giảng dạy Phật học, thầy Xuân vẫn dành cho mình và cho mọi
người một tình yêu bền bỉ với nghệ thuật. Nó khiến công việc tu hành gần gũi
với nhân quần hơn và cộng đồng cũng cảm thấy nhà chùa không có gì xa cách.
Hoàng Thi
Chúc tết
Chúc mừng năm mới khắp toàn gia
Hạnh phúc an khang đến trẻ già
Lộc tài thịnh vượng luôn tiến triển
Đất nước phồn vinh được thái hoà
Xuân Về
E ấp cành non hé nụ hồng
Thẹn thùng đón đợi gió đông
phong
Mơn mởn xuân về cành lộc biếc
Rạo
rực đầu non én liệng vòng
Xuân Tân Mão
Xuân Về Như ý trọn niềm vui
Phú quý vinh hoa nở nụ cười
Tài lộc hanh thông an khang
thịnh
Sức khoẻ tăng thêm khắp mọi
người
Vui đón xuân về khắp nơi nơi
Gửi câu chúc tết đến mọi người
Thịnh vượng an khang sự nghiệp
phát
Sức
khoẻ dồi dào thế là vui.
Tết Nhâm Dần
Vui nào bằng tết đến nhà
Mừng sao xuân đến gần xa đều
cười
Chúc sao có vạn niềm vui
Những
điều mơ ước mọi người thành công
Vô đề 1
Tết
về náo nức khắp gần xa
Xuân
đến niềm vui khắp trẻ già
Cùng
ta chúc câu tết mới
Phúc
lộc vẹn toàn nở như hoa.
Sắc xuân
Ngàn hoa đua sắc khoe cười
Xuân về tất cả mọi người hân
hoan
Khí xuân tươi tốt ngập tràn
Chim về vỗ cánh trên ngàn mừng
vui
Rộn vang ca khắp núi đồi
Trời
xuân như muốn đón người vui chung
Vô đề 2
Đào mai khoe sắc đầy sân
Gió đông như cũng nguôi dần tái tê
én đâu tung cánh bay về
Cành non mơn mởn tràn đầy sức
xuân
Trời quang tỏa ánh tường vân
Nước non ngàn dặm muôn phần
tốt tươi
Dáng Mai
Mảnh khảnh thân mình dáng nàng
mai
Tuế nguyệt thi gan với hình
hài
Ngọc thể trắng trong còn
nguyên đó
Gió thét mưa gầm chẳng nhạt
phai
E ấp nàng mai dáng ngại ngùng
Buồn thân nhi nữ ở thâm cung
Cái tuổi xuân thì đang trỗi
dậy
Đêm đông giá buốt gió lạnh lùng
Hương Bưởi
Hôm
đi qua ngõ nhà em
Nửa
như lạ nửa như quen thủa nào
Lạ
vì trong dạ xôn xao
Mỗi
ngày qua ngõ biết bao nhiêu lần
Rối
bời lòng dạ phân vân
Muốn
vào mà ngại, tần ngần trở ra
Bỗng
nhìn cây bưởi trắng hoa
Thấy
quen như thủa mẹ, bà ngày xưa
Lấy
bông bưởi tắm trẻ thơ
Hương
hoa bưởi, gội tóc xơ thành mềm
Cài
bông hoa bưởi làm duyên
Mùi
hương toả ngát mái hiên trước nhà
Thương
em ngơ ngẩn vào ra
Ngắt
bông bưởi trắng làm quà tặng em
17/7/11
CHÙA QUÊ
Cửa thiền một ánh trăng trong
Tiếng chuông khuya điểm thấy lòng thảnh thơi
Mái cong ôm trọn bầu trời
Cũng như dáng mẹ cuộc đời ôm con
Một thời nét vẽ vàng son
Dẫu qua năm tháng vẫn còn như xưa
Trải bao thế cuộc nắng mưa
Vẫn in dấu tích ngàn xưa vọng về
Đó là bóng dáng chùa quê
Nét rêu phong vẫn hiện về trong tôi
Đã qua năm tháng cuộc đời
Mái chùa in đậm trong tôi thủa nào
Vẫn như lời hát ngọt ngào
Bên nôi mẹ kể đi vào giấc mơ
“Quê Tôi có gió bốn mùa
Có trăng giữa tháng có chùa quanh năm”(*)
CHÚT HỒN QUÊ
Hè về nhớ bát canh chua
Nhớ canh rau bợ nấu cua, mẹ làm
Cơm ăn no bụng còn ham
Canh rau muống luộc chứa chan bao tình
Cà ngâm muối mặn trắng tinh
Gợi cho ta nhớ bóng hình của ai
Dù cho cách vạn đường dài
Xa quê vẫn nhớ bóng ai âm thầm
Hồn quê giữ trọn trong tâm
Xa quê mới thấy tình thâm quê nhà
HOA TẶNG
MẸ
Mẹ là ánh sáng thái dương
Là cây toả mát đoạn đường theo con
Mẹ là ánh của trăng tròn
Là sông con tắm là nguồn con bơi
Mẹ là thuyền giữa biển khơi
Đưa con đến bến, chân trời ước mơ
Nhưng rồi con vẫn dại khờ
Bước đi chập chững mịt mờ lối quen
Mẹ như ngọn nến trong đêm
Lại soi cho bước chân quen con về
Con như sực tỉnh bến mê
Quay về bờ giác bồ đề độ sinh
Nguyện lời cứu vớt hàm linh
Bó hoa dâng Mẹ chứng minh lòng thành
23/4/2012 (3/4 Nhâm Thìn)
(*) Ý câu thơ mượn của
tác giả Nguyễn Bính.